Friday, 2 March 2012

Tìm Nguyễn Huy Thiệp qua "Vong bướm"

 
 
Thiên tài cũng bởi chữ Duyên mà thành! (1) 

Sau khi đọc Vong bướm, một người đọc bình thường có thể đặt câu hỏi rằng phải chăng nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp đã qua thời kỳ của cái đẹp đau đớn nhưng đầy xúc cảm, với sức mạnh giúp con người thăng hoa và hồi sinh, thời kỳ của Con gái thủy thần, Muối của rừng, Mưa Nhã Nam, hayCánh buồm nâu thuở ấy?

Và phải chăng cũng không còn nữa những cuộc xung đột đa chiều đầy hàm súc của nhiều tuyến nhân vật sinh động giàu sức sống, như Không có vua và Sang sông?

Thế thời phải thế


Vì sao con đường sáng tạo của một nhà văn có tâm hồn phức tạp, tinh tế, sâu thẳm, và tài năng lớn (để là tác giả của tất cả những tác phẩm trên đây) dường như bị chững lại? Đó có phải là một sự suy thoái trong sáng tạo?

Câu hỏi trên đây là cần thiết. Có lẽ bản thân nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng luôn suy nghiệm về sự suy thoái, và điều này thể hiện qua nhiều tác phẩm, trong đó có Vong bướm. Hai tác phẩm Vong bướm và Truyền thuyết tìm vua trong cuốn sách mới của ông đều xoay quanh những suy nghiệm về sự tha hóa của con người, do chủ động hoặc bị hoàn cảnh tác động mà đi chệch khỏi con đường của Đạo.

Năm 2008, trong diễn văn đọc nhân sự kiện được nhận giải thưởng Nonino Risit D’Âur Prize, Nguyễn Huy Thiệp từng kể lại câu chuyện ngụ ngôn về sự thoái hóa của một vị đạo sĩ. Đại ý như sau. Ở một xứ nọ, con người thuần phác có một đạo sĩ thánh thiện, nghèo túng, thường cho dân làng những lời khuyên chí thánh, và cũng được dân làng hết sức quý trọng. Thấy ông bị bọn chuột quấy phá, một người thương tình đem cho một con mèo. Con mèo thường được dân làng cho sữa, và một ngày kia có người ở xa giàu có đem cho vị đạo sĩ một con bò sữa để nuôi con mèo. Dân làng thấy vậy mới làm cho con bò cái chuồng, nhân thể làm cho vị đạo sĩ một cái am nhỏ để ở. Để giúp ông nuôi bò, không lâu sau người ta gửi cho ông một người đàn bà. Vậy là vị đạo sĩ không còn giữ được sự yên ổn trong lòng mình nữa. Trở nên đầy đủ như một phú ông, ông lấy người đàn bà làm vợ. Ít lâu sau ông bắt đầu hay cáu gắt, văng tục, nói nhảm nhí, uống rượu, đánh người, và chạy theo những cô gái đáng tuổi con mình. Con đường tu hạnh của vị đạo sĩ đến đây chấm dứt.

Câu chuyện kể này có lẽ ẩn chứa một số ám ảnh thường trực nhất định. Ám ảnh của một con người phải đối diện với những biến đổi khó khăn (hoặc thuận lợi) của đời sống khiến cho năng lượng bị phân tán, thời gian cho riêng mình ít đi. Đặc biệt đối với các nhà văn là sự mất đi những khoảng không để tĩnh tâm, chiêm nghiệm, tự thanh lọc và tu tập.

Nhưng là một người có những suy nghiệm sâu sắc về Đạo, hẳn Nguyễn Huy Thiệp không hoàn toàn coi tiến trình trên đây là một sự tha hóa, mà là một điều gì đó do sự vận động tất nhiên của đời sống: thế thời phải thế.

Tính đơn tuyến của con người thời loạn

Đối với mọi người bình thường, để vượt qua những khó khăn của vị đạo sĩ trên đây đòi hỏi một tư duy và kỹ năng tổ chức cuộc sống. Đó là sắp xếp các nguyên liệu vật chất và tinh thần mình đang có theo một trật tự phù hợp nhằm đem lại những kết quả trong cuộc sống đúng như mình mong muốn.

Tư duy tổ chức là biểu hiện của một xã hội đang phát triển đi vào ổn định. Nếu như văn học là tấm gương phản ánh hiện thực xã hội thì bản thân nhà văn trong những xã hội đang phát triển đi vào ổn định cũng cần thẩm thấu tư duy tổ chức cuộc sống, đưa nó vào trong tác phẩm văn học. Những đại tiểu thuyết như Đông Chu Liệt Quốc hay Những người khốn khổ giúp lưu giữ được cho chúng ta các không gian đại cảnh hùng vĩ, phản ánh những biến hóa sâu sắc, phức tạp của con người và thế giới trong lịch sử. Để dựng được những đại cảnh ấy, người nghệ sỹ ắt phải có tài tổ chức, một sản phẩm của xã hội đã phát triển đạt đến một độ ổn định nhất định.

Nhưng Nguyễn Huy Thiệp có lẽ không phải là con người của sự ổn định. Ông ít nhiều vẫn là người của thời loạn. Những ám ảnh về sự mất mát và ly tán vẫn luôn thường trực trong tác phẩm của ông. Có lẽ nguyên nhân một phần do khách quan cuộc sống, một phần khác do chính những đặc thù nội tại của nhà văn.

Bản năng thời loạn khiến người ta luôn trong tư thế phòng vệ và ngờ vực, vừa mong manh, vừa bảo thủ. Trong thời loạn đó là nguồn năng lượng mãnh liệt giúp người ta sinh tồn, và giúp đem đến những tác phẩm để đời cho các nhà văn lớn. Nhưng khi xã hội đi vào ổn định hơn, khi mà người ta tất yếu phải tăng cường số lượng các tương tác, giao dịch, những bản năng thời loạn bỗng trở thành có hại.

Đối với nhà văn, tâm lý phòng vệ tự bảo toàn cái tôi sẽ gây khó khăn cho việc hấp thụ nguồn sinh khí mà thời thế mới mang đến. Tri thức sâu sắc, tâm hồn đa cảm khiến nhà văn có thể nắm bắt rất nhanh các đặc thù của đối tượng quan sát, nhưng anh ta sẽ không thể hóa thân trọn vẹn thành người khác. Nếu chúng ta để ý kỹ sẽ nhận ra điều này trong các tác phẩm lâu nay của Nguyễn Huy Thiệp. Anh chỉ có khả năng phân thân chứ không thể hóa thân. Những cuộc đối thoại giữa các nhân vật khác nhau nếu thực chất chẳng phải tự sự thì cũng đơn thuần chỉ là đối đáp giữa những nhân diện giả định của cùng một tâm hồn. Tâm hồn ấy rất sắc sảo và phức tạp, nhưng đơn tuyến.

Đến với chèo

Có hai tạng nhà văn viết kiếm hiệp: Cổ Long và Kim Dung. Tạng của Cổ Long kiêu hãnh, khắc bạc, luôn xoáy sâu vào nội tâm nhân vật trung tâm. Ngược lại, Kim Dung luôn thiên về sắp xếp, tổ chức, bày binh bố trận, dàn dựng nên vô số các chi tiết đa tuyến sinh động để chắp nối hội tụ lại thành những xung đột cao trào. Một người là tạng của kiếm khách độc lai độc vãng, còn người kia là tạng của nhà quân sự. Có thể nói đây là hai thái cực cơ bản trong thế giới các nhà văn nói chung.

Nguyễn Huy Thiệp là tạng kiếm khách độc hành, không phải tạng của nhà quân sự. Anh có thể xếp quân tướng thành các lớp, các mảng một cách mạch lạc, hợp lý, và đặc tả tính cách, tâm lý, hành vi của họ rất khéo, rất tinh. Nhưng anh không thể thổi hơi cam lộ vào nhiều nhân vật cùng một lúc, buộc họ phải cùng nhảy vào lửa và đem hết tinh hoa phát tiết để phụng sự cho mình.

Tuy nhiên, Không có vua và Sang sông là ngoại lệ. Những xúc cảm bất an về một thời kỳ hỗn độn, dù mang tính đơn tuyến (và có phần độc tài) nhưng có đủ độ quyết liệt và chân thành để cho phép nhà văn thống lĩnh được các nhân vật một cách hợp tình, hợp lý.  

Trường hợp Vong bướm và Truyền thuyết tìm vua thì sao? Đây là hai tác phẩm chèo đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp. Là sản phẩm của nền văn minh lúa nước, trong tâm thức của chèo luôn ẩn chứa sẵn sự nhẫn nại của người gieo hạt chờ đến ngày gặt hái. Nghĩa là bảy được ba thua, ba chìm bảy nổi. Luôn kỳ vọng vào một ngày mai tươi sáng, nhưng nếu không may mà chẳng được thì âu cũng là lẽ thường tình. Phải chăng Nguyễn Huy Thiệp đã đến với chèo từ những đồng điệu về tâm thức, trong đó nửa phần có tâm thế bấp bênh từ một thời kỳ đã qua, nửa phần lại có tâm thế quy củ ổn định của một xu hướng thời đại đang đến. Vô tình hay hữu ý, tên gọi hai tác phẩm trong cuốn sách – Vong bướm và Truyền thuyết tìm vua – cũng phần nào phản ánh hai nửa tâm thế này.

Con đường phía trước

Thời cuộc mà chúng ta đang sống đang ở một giai đoạn mà một kiếm khách lừng danh như Nguyễn Huy Thiệp vài năm trước đã tự thán rằng giang hồ sót lại mình tôi (2). Ông từng tự nhận mình viết cuốn Vong bướm nhằm dưỡng tâm. Người đàn ông nguyên thủy của những ngọn gió Hua Tát đã đi qua thời kỳ giang hồ kiêu bạc để đến với một chặng đường mới với những trói buộc không tránh khỏi mà ông tự thấy phải chấp nhận. Dù sao thì giữa ông và thời cuộc dường như đang có một độ lệch pha nhất định.

Sự lệch pha này đặt một nhà văn tử tế trước ba lựa chọn (không loại trừ lẫn nhau), nếu vẫn muốn tiếp tục hành trình sáng tạo. Một là nửa tỉnh nửa say theo đời thường thường. Hai là trở thành thi sĩ với đôi mắt ngồi đây mà thấy những đâu đâu (3). Ba là đi sâu hơn vào con đường tu tập. Con đường nào sẽ thật sự đưa vong bướm về gần hơn với Đạo?

(Bài đăng trên Tia Sáng: http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&CategoryID=41&News=4948)

----------------

1 Nguyễn Huy Thiệp, Truyền thuyết tìm vua

2 Thơ Nguyễn Bính

3 Bùi Giáng nói về Tuệ Sĩ trong Đi vào cõi thơ

Thursday, 19 January 2012

Tinh thần Nhật Bản trong bức tranh "Sóng lừng" của Hokusai


Không chỉ là một tác phẩm kinh điển của hội họa Nhật Bản, Sóng lừng của Hokusai còn là một biểu tượng cho tinh thần và văn hóa đặc biệt của người Nhật.

Bút pháp hiện đại và giai điệu của sóng

Bức tranh Sóng lớn của Hokusai, còn có tên gọi là Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa, nằm trong loạt tranh in khắc gỗ Ba mươi sáu cảnh núi Phú Sĩ [1] được công bố từ 1830 tới 1833. Đây là một tác phẩm bắt mắt, nhưng không phải dễ xem. Thoạt nhìn người ta có thể sẽ gắn tác phẩm với những cụm từ như “trang trí”, hay “đèm đẹp”. Bút pháp trong tranh của Hokusai rất chính xác, điêu luyện, nhưng không có được tính tự do nhẹ nhõm của Hiroshige. Vì vậy mà khi mới nhìn qua tác phẩm, ai đó có thể cảm thấy sự khô cứng như thể là sản phẩm của một người thợ vẽ hơn là một nghệ sỹ.

Tuy nhiên, càng xem lâu Sóng lừng, ấn tượng về tác phẩm sẽ càng biến hóa, thậm chí khiến chúng ta phải kinh ngạc bởi tính hiện đại của nó. Không phải vô cớ mà khi nhìn sâu vào những vệt nước xanh thẫm ta không chỉ cảm thấy sức mạnh những con sóng, mà cả giai điệu dập dồn của chúng. Những vệt màu xanh này vừa phản ánh cấu trúc của ngọn sóng, vừa biểu đạt hướng chuyển động. Tiết tấu song song và đan cài đầy hiệu quả của chúng rất gần với bút pháp của những nghệ sĩ Ấn tượng của châu Âu, đặc biệt là hai bậc thầy Hậu Ấn tượng là van Gogh và Cezanne. Hai bậc thầy này là những người đã chuyển hóa các điểm màu li ti thành những vệt màu quả quyết mạnh mẽ, để không chỉ đem lại các ấn tượng về bề mặt, mà còn hình thành một cấu trúc rõ rệt cho tác phẩm. Mấu chốt này chính là mầm mống ảnh hưởng sâu sắc tới các trường phái nghệ thuật Hiện đại phương Tây sau này, từ Lập thể tới Trừu tượng.

Tác phẩm Kanagawa-oki Honmoku no zu, sáng tác năm 1803

Tác phẩm Oshiokuri Hato Tsusen no Zu sáng tác năm 1805

Như vậy, có thể nói rằng Hokusai đã đi trước phương Tây một bước. Ông sống ở một nước phương Đông xa xôi, nơi mà nền hội họa khi ấy còn chưa mấy phát triển, phải chập chững học hỏi từ những họa phẩm Hà Lan nhập cảng vào. Nhưng ông đã làm được những điều mà cả thập kỷ, thậm chí cả thế kỷ sau ở phương Tây mới xuất hiện.

Nếu để ý ngọn sóng thấp hơn ở góc dưới, chúng ta thấy rằng những đường gấp khúc thoạt nhìn chỉ để mô tả cấu trúc bề mặt của con sóng, nhưng tiết tấu gấp khúc liên tiếp tạo ra nhịp điệu gấp gáp, tương phản với tiết tấu duỗi dài với những vệt song song ở ngọn sóng trung tâm đang vươn đến đỉnh điểm cao nhất. Sự tương phản này giúp làm nên  nhịp điệu đặc trưng của biển cả.

Tiếp theo hãy để ý bố cục hình tam giác của chúng, trong đó hướng dịch chuyển và vị trí của chúng tạo thành hai cung tròn mà điểm giao nhau là ở mũi thuyền bên trái. Thoạt đầu bố cục này không có vẻ gì là đặc biệt, nhưng ngay khi người xem tìm cách nắm bắt toàn cảnh bức tranh, đôi mắt họ không tránh khỏi dao động, dịch chuyển qua lại trên hai cung tròn. Điều này tạo thêm một yếu tố làm thành giai điệu dập dồn cho biển cả.

Cái nhìn chiêm nghiệm của phương Đông

Ngọn sóng cao nhất trong bức tranh Sóng lừng khiến người ta thường liên tưởng tới bối cảnh sáng tác. Đó là một giai đoạn đời sống cá nhân của Hokusai đang đi xuống, gặp nhiều khó khăn trở ngại. Nhưng thực tế là những con sóng lớn luôn thu hút sự quan tâm của họa sĩ từ trước đó rất lâu. Vì vậy, có lẽ Sóng lừng không đơn thuần chỉ để biểu đạt một tâm tư cụ thể nhất thời nào đó, mà là kết quả của một quá trình chiêm nghiệm.

Một trong những ấn tượng dễ thấy nhất ở bức tranh Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa của Hokusai là hòa sắc trầm và dịu, tương phản với nội dung là khung cảnh những con thuyền đang vật lộn sinh tử trong cơn biển động dữ dội. Hòa sắc trầm dịu này cũng thể hiện một sự chiêm nghiệm trong tâm tưởng rất đặc trưng của phương Đông, đối diện với những gian nguy bằng con mắt tĩnh tại nhiều chiều sâu.

Từ hai tác phẩm được Hokusai sáng tác những năm 1803 và 1805 tới tác phẩm Sóng lừng cho thấy đã có một quá trình phát triển để đạt tới chín muồi. Hokusai bị ám ảnh bởi sự thô, nặng của ngọn sóng, phản ánh những thách thức lớn lao mà con người phải trải qua, nhưng tới Sóng lừng thì ông bổ sung thêm tính biểu cảm qua những bọt nước. Những bọt nước nhẹ nhõm giữa lưng chừng không gian càng tương phản với con sóng to lớn, tạo chất thơ cho khung cảnh. Trong tác phẩm Kaijo no Fuji được sáng tác năm 1834, chúng ta thấy Hokusai không sử dụng hình ảnh các bọt nước, mà phát triển thành những cánh chim chao lượn tự do.

Sự phát triển thể hiện qua bốn tác phẩm, mà cuối cùng cô đọng lại ở tinh thần mạch lạc và tự do trong tác phẩm Kaijo no Fuji khiến chúng ta không khỏi liên tưởng tới những dòng suy nghiệm của Hokusai vài năm trước khi ông qua đời:

“Tôi bắt đầu có thói quen vẽ từ năm 5 tuổi. Tới tuổi 50, tôi đã vẽ được khá nhiều, nhưng phải tới năm 70 tuổi, tác phẩm của tôi vẽ ra mới thực có giá trị. Tới năm 73 tuổi, cuối cùng thì tôi cũng học được điều gì đó về bản chất chân thật của sự vật, chim, thú, côn trùng, cá, và cỏ cây. Để rồi tới năm 80 tuổi, tôi sẽ tiếp tục tiến bộ, và tới năm 90 tuổi tôi thấu tỏ được ý nghĩa sâu xa nhất trong vạn vật…”.

Kaijo no Fuji, trong loạt tác phẩm Một trăm cảnh núi Phú Sĩ, 1834.

Bức tranh Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa không có được tinh thần tự do tự tại như bức Kaijo no Fuji. Nó đi theo mạch của hai tác phẩm trước đó, phản ánh sự tương tranh căng thẳng giữa tạo hóa và con người, mà cụ thể ở đây là con người Nhật Bản.

Nhân vật trong tranh là những ngư dân, tầng lớp nghèo khổ phía dưới của xã hội. Khác với hai bức tranh đầu tiên, trong đó hình ảnh các con thuyền tìm cách chạy thoát khỏi những ngọn sóng lớn, ở Sóng lừng ngoài khơi Kanagawa chúng ta thấy những con thuyền đang lao trực diện vào sóng dữ. Hình ảnh con thuyền ngoài cùng bên phải được ngọn sóng nâng lên trong tư thế chúc xuống rất thú vị, một mặt phản ánh nhịp điệu lên xuống của biển cả, mặt khác thể hiện giữa con người với thiên nhiên không đơn thuần chỉ có sự đối đầu mà còn có cả sự nương tựa và tùy biến linh hoạt. Những ngư dân trong tranh không thể hiện ra ngoài sự hoảng loạn. Tư thế gò lưng đều tăm tắp cho thấy tinh thần kỷ luật và đoàn kết vượt qua khó khăn, một đặc trưng của tinh thần con người Nhật Bản. 

Khi nói về bức tranh Sóng lừng của Hokusai, người ta vẫn thường đề cập đến hình ảnh núi Phú Sĩ nom nhỏ bé ở phía xa, tương phản với ngọn sóng cao lừng lững trước mắt. Nhưng có một sự tương phản khác mà ít người để ý hơn, giữa hình ảnh ngọn núi thiêng tĩnh tại, với những bọt nước treo lơ lửng giữa lưng chừng không gian. Điều đó tạo ra ấn tượng về tính nhất thời của khoảnh khắc sẽ qua đi. Ấn tượng này cũng rất liên quan đến tư thế chông chênh cheo leo của con thuyền ngoài cùng bên phải, mũi thuyền đẩy ngang qua núi Phú Sĩ.

Có lẽ, thông điệp mà họa sĩ gửi gắm ở đây là mọi khó khăn dù có thể vô cùng lớn lao ngay trước mắt nhưng rồi sẽ qua đi, và sau những cố gắng bền bỉ của con người thì những điều thiêng liêng, tốt đẹp sẽ còn lại mãi mãi. Sự lạc quan và kiên cường hẳn cũng là một đặc trưng khác của tinh thần Nhật Bản.

----------------------------
[1] Sau này Hokusai sáng tác thêm 10 tác phẩm bổ sung vào loạt 36 tác phẩm này.


Phát triển thị trường để bảo vệ chủ quyền biển

Lịch sử cho thấy các đặc thù phát triển thị trường là yếu tố quan trọng liên quan trực tiếp tới vận mệnh các quốc gia ven biển. Những khu vực có tính tương tác đa cực cao và thuận tiện cho giao thương sẽ có ưu thế vượt trội để phát triển đi trước. Ngược lại, những khu vực bị cô lập và thị trường kém phát triển thường xuyên đối diện với nguy cơ tụt hậu và mất an ninh chủ quyền. 

Xuyên suốt lịch sử, bài học về sự hưng thịnh của các quốc gia thường gắn liền với khả năng duy trì giao thương trên biển. Biển cả không chỉ là cầu nối trao đổi hàng hóa, mà còn kết nối giúp lưu thông tri thức khoa học và văn hóa. Tuy nhiên, trong lịch sử của mình, Việt Nam dường như chưa khai thác được nhiều các lợi thế từ biển, dù có một đường bờ biển dài, giáp với Thái Bình Dương và nằm cách không xa Ấn Độ Dương là bao. Điều này liên quan trực tiếp tới một thực tế là nước ta thiếu vắng một thị trường đủ mạnh giúp duy trì đều đặn các tuyến giao thương trên biển.

Thời kỳ cổ đại: thị trường lệ thuộc nhiều vào yếu tố địa lý

Thị trường mạnh sẽ tạo ra động cơ tài chính để tổ chức giao thương, và ngược lại, giao thương phải thuận tiện thì thị trường mới hình thành. Nhưng một điều kiện rất quan trọng khác để hình thành thị trường là giữa các địa phương phải có sự khác biệt tương đối về sản vật được đem đi buôn bán, trao đổi.

Ở đây, một câu hỏi cần đặt ra là: vì sao trong số rất nhiều quốc gia cổ đại nằm cạnh biển, chỉ có khu vực các nước lân cận Địa Trung Hải được chứng kiến những sự tương tác và giao lưu mạnh mẽ để có thể phát triển cùng một lúc vài ba nền văn minh rực rỡ? Câu trả lời là Địa Trung Hải rất khác với những vùng biển cổ đại khác, được vây bọc bởi những vùng thổ nhưỡng khác nhau với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Mỗi địa phương có một nguồn nguyên liệu và sản vật thiết yếu riêng, từ đồng, sắt, đá hoa cương, kim loại quý, tới dầu ôliu, lúa mạch, rượu nho, v.v. Điều kiện tự nhiên như vậy kết hợp với đặc thù khí hậu ôn hòa, thời tiết, tạo thuận lợi rất lớn cho các hoạt động buôn bán trao đổi bằng đường biển. Nhờ đó, các thị trường và các nền văn minh cổ như Ai Cập, Lưỡng Hà, và Hy Lạp có thể dễ dàng kết nối nhau, kích thích nhau phát triển.

So với khu vực Địa Trung Hải thì khu vực Đông Nam Á cũng là một quần thể các quốc gia ven biển, nhưng điều kiện tự nhiên hạn chế và khắc nghiệt hơn nhiều. Từng quốc gia riêng lẻ thường bị rừng nhiệt đới che phủ một phần đáng kể diện tích. Điều kiện thổ nhưỡng giữa các vùng không khác biệt nhau đáng kể. Những nền văn minh cổ phát triển trong điều kiện như vậy nhìn chung đều dễ bị giới hạn trong phát triển, và khó hình thành nên những thị trường kinh tế lớn.

Do trình độ đóng tàu và đi biển của con người thời kỳ cổ đại chưa cao nên việc di chuyển gặp nhiều khó khăn, không thể đi quá xa bờ. Trong khi người Địa Trung Hải có thể men theo bờ để buôn bán tự do giữa những trung tâm kinh tế lớn, từ Hy Lạp sang Lưỡng Hà và Ai Cập, thì các cộng đồng cổ ở Đông Nam Á chỉ có thể đi loanh quanh trong phạm vi hẹp, giao thương một cách hạn chế giữa những nền kinh tế nhỏ. Thị trường hạn chế khiến họ càng không thể đủ tài lực tổ chức nhiều những chuyến viễn dương xa xôi.

Trung đại và cận đại: đơn cực và thiếu giao lưu dẫn đến tụt hậu

Tính chất đa cực trong khu vực và khả năng lưu thông thuận tiện giữa các quốc gia châu Âu trong một giai đoạn dài trong lịch sử, đặc biệt là từ thời kỳ Phục hưng, đã đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển khoa học kỹ thuật. Nếu mỗi quốc gia khép kín tự lực tìm tòi thì thành quả khoa học sẽ bị hạn chế, nhưng nếu giữa các quốc gia có sự cọ xát, tương tác, thì khoa học sẽ được thường xuyên bồi đắp và dễ dàng cất cánh hơn.

Nếu đối chiếu với phần còn lại của thế giới, đơn cử lấy Trung Quốc làm đại diện nổi bật nhất, chúng ta cũng thấy rằng Trung Quốc phát triển tiến bộ nhanh nhất là vào thời kỳ cổ đại, khi quốc gia này duy trì được tính đa cực khi vẫn còn phân chia thành các nước nhỏ hơn. Còn sau khi Trung Quốc đã thống nhất thì phát triển mạnh nhất là vào thời nhà Đường, khi giao thương với phương Tây được duy trì tích cực qua con đường tơ lụa.

Tình trạng bị cô lập và những điều kiện không thuận lợi về địa lý, đã khiến Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác bị tụt hậu với phương Tây. Nhưng kể từ khi Trung Quốc thống nhất thì tính cạnh tranh và tính tương tác đa cực giữa các cộng đồng độc lập không còn nữa. Tính đồng nhất trong một xã hội khép kín gây trì trệ cho khoa học kỹ thuật. Xu hướng này càng gia tăng khi con đường tơ lụa rơi vào suy thoái kể từ khi người Hồi giáo nổi lên kiểm soát Trung Đông, khiến sự giao thương và lưu thông tri thức giữa Trung Quốc với phương Tây bị chặn lại. Hệ quả là châu Âu đạt được sự vượt trội về trình độ khoa học kỹ thuật so với Trung Quốc cũng như toàn bộ phần còn lại của thế giới.

Tiến bộ về trình độ công nghệ của châu Âu khiến người châu Âu đủ sức thường xuyên tổ chức những chuyến vượt đại dương, qua đó bắt đầu triển khai được một mạng lưới thị trường toàn cầu. Trong khi đó ở Trung Quốc, triều đình nhà Minh cũng tổ chức được một số chuyến viễn du hồi đầu thế kỷ 15 do đô đốc Trịnh Hòa thực hiện, nhưng những chuyến đi này mang tính chất chính trị và ngoại giao, chứ không đem lại giá trị gia tăng về kinh tế để tạo ra động lực cho những chuyến viễn du tiếp theo. Hay nói theo cách khác, công nghệ chinh phục biển của Trung Quốc vào thời kỳ ấy chưa đạt tới tầm thị trường hóa.

Sự tụt hậu của Trung Quốc so với phương Tây là điển hình chung cho một châu Á thua thiệt do điều kiện địa lý hạn chế và sự đơn điệu về địa chính trị tạo ra những khu vực trì trệ, kém phát triển. Do bối cảnh ấy, trong một giai đoạn dài sau này châu Á từng bước bị biến thành thuộc địa để phương Tây khai thác.

Như vậy, tình trạng bị cô lập và những điều kiện không thuận lợi về địa lý đã khiến Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác bị tụt hậu với phương Tây trong phát triển khoa học và kinh tế nói chung, cũng như về giao thương trên biển nói riêng. Không thể nói rằng cha ông chúng ta thiếu tham vọng chinh phục biển. Tới cuối thế kỷ 15, khi Đại Việt hoàn tất chinh phục Champa để kết thúc một thời kỳ dài những cuộc chiến tranh qua lại, chưa kịp ổn định khai phá thì tới đầu thế kỷ 16, xảy ra sự kiện người Bồ Đào Nha chiếm eo biển Malacca. Kể từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á và Đông Á đứng trước nguy cơ bị thực dân hóa. Trong bối cảnh ấy, tâm lý ngờ vực, thu mình cố thủ của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, là điều có thể hiểu được.

Vận mệnh người đi sau: tùy thuộc vào mức độ phát triển của thị trường

Lợi ích kinh tế là động lực chính đằng sau các hoạt động chiếm thuộc địa và mở rộng thị trường của phương Tây. Tự thân việc chiếm thuộc địa cũng là một cách để mở rộng thị trường, nhưng không phải là cách duy nhất. Đối với những nơi đã sẵn có một thị trường ổn định phù hợp để khai thác đem lại nguồn lợi cho các nhà buôn thì việc chiếm thuộc địa đôi khi trở nên không cần thiết, thậm chí còn gây hại cho chính quốc gia đi xâm chiếm thuộc địa.

Trường hợp của Bồ Đào Nha tại eo biển Malacca là một ví dụ. Với tham vọng độc chiếm cửa ngõ thương mại của Đông Nam Á và Đông Á, vào năm 1511 Bồ Đào Nha tập trung một lực lượng lớn chiến thuyền và quân đội xâm lược Malacca. Nhưng điều này hóa ra lại tai hại, biến khu vực này từ một khu vực thương mại thuận tiện trở thành bất ổn định, gây khó khăn cho giao thương, và hệ quả là sau một thời gian sa lầy, người Bồ Đào Nha bị Hà Lan hất cẳng khỏi Malacca vào thế kỷ 17.

Trường hợp của Thái Lan và Nhật Bản là ví dụ điển hình cho những nước thoát khỏi số phận thuộc địa nhờ đã có được thị trường ổn định, thuận tiện cho việc phát triển giao thương để đem lại lợi nhuận cho phương Tây. Đa phần những khu vực ven biển kém phát triển khác ở châu Á không có được may mắn này. Trong số đó, Ấn Độ và Indonesia là những nơi chưa có nền hành chính đủ mạnh (Ấn Độ trong giai đoạn này thậm chí chưa thể coi là một quốc gia), khiến thị trường bị phân tán rời rạc. Ngược lại, Việt Nam và Trung Quốc đã có một nền hành chính có tính kiểm soát tương đối mạnh, các thị trường trong nước đã khá phát triển, nhưng lại bị hạn chế do chính quyền phong kiến thi hành chính sách bế quan tỏa cảng.

Những quốc gia nói trên đều chưa kịp phát triển một thị trường ổn định và đều đã bị phương Tây chiếm toàn bộ hoặc một phần ven biển làm thuộc địa. Những vùng thuộc địa này trở thành điểm đặt chân để phương Tây khai thác tài nguyên, hoặc làm bàn đạp mở rộng thị trường vào sâu trong nội địa. Ví dụ như trường hợp thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, có lẽ động cơ ngay từ ban đầu không chỉ dừng lại ở Việt Nam, mà cái đích chiến lược nhắm tới là toàn bộ Đông Dương.

Vấn đề của Việt Nam trong bối cảnh hiện đại

Trong thế giới hiện đại, sau khi các cuộc chiến tranh lớn và Chiến tranh Lạnh qua đi, thị trường toàn cầu đã đi vào ổn định. Các quốc gia tập trung vào phát triển kinh tế, hướng tới giao thương ngày một tự do hơn, và đặc biệt tránh các cuộc xung đột. Những cuộc xung đột lớn dẫn đến xảy ra chiến tranh trên diện rộng như ở Iraq, hay như ở Libya vừa qua là không phổ biến.

Chủ quyền của Việt Nam vẫn có thể bị ăn mòn dần dần qua các xung đột quy mô nhỏ. Tại châu Á, sau khi Trung Quốc mở cửa giao thương với Mỹ và phương Tây, tiềm lực và địa vị cường quốc của họ từng bước hồi phục và ưu thế ấy nhanh chóng được chuyển hóa thành đòi hỏi chủ quyền trên biển Đông. Trong khi đó, suốt một giai đoạn dài thị trường của Việt Nam bị cô lập, giao thương bị hạn chế. Trong thế yếu đó, chúng ta bị mất Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa mà không được ai can thiệp, hỗ trợ.

Tuy nhiên, cùng với xu hướng chung của thế giới, khả năng trong thời gian tới xảy ra xung đột lớn dẫn đến mất chủ quyền của Việt Nam trên diện rộng ở biển Đông là điều khó xảy ra. Hơn nữa, cộng đồng thế giới khó lòng làm ngơ để xảy ra bất ổn trên diện rộng ở biển Đông, vì điều này sẽ ảnh hưởng tới nhiều bên liên quan, đặc biệt là gây gián đoạn các tuyến giao thương quốc tế.

Tuy nhiên, chủ quyền của Việt Nam vẫn có nguy cơ bị ăn mòn dần dần qua các xung đột quy mô nhỏ. Thực tế thì điều này đã xảy ra trong quá khứ, và vẫn có thể tiếp tục lặp lại trong tương lai. Ví dụ, kịch bản trong tương lai có thể xảy ra là một quốc gia thăm dò dầu khí, và triển khai xây dựng dàn khoan trong khu vực tranh chấp. Một diễn biến như vậy không đủ lớn để gây ra xung đột trên diện rộng, càng khó thu hút sự quan tâm và can thiệp của cộng đồng quốc tế.

Tiềm lực hải quân của Việt Nam hiện nay chưa phù hợp với các kịch bản xung đột quy mô nhỏ như trên, do chưa có những chiến hạm lớn. Những con tàu tuần tiễu loại nhỏ không giúp được gì trong các kịch bản này, trong khi các loại vũ khí hiện có như hỏa tiễn, và tàu ngầm chỉ phù hợp cho việc xuất kích chớp nhoáng, tuy là những loại vũ khí rất cần thiết cho việc phòng thủ và tấn công khi nổ ra chiến tranh, nhưng trong thời bình thì không thể dùng được do điều này đồng nghĩa với việc tuyên chiến. Các phi cơ chiến đấu mà chúng ta đang sắm về là công cụ có chức năng vừa công, vừa thủ, nhưng lại không thể được duy trì thường trực cố định trên mặt biển tại vị trí tranh chấp.

Với những tranh chấp quy mô nhỏ như trong bối cảnh thời bình hiện nay, các chiến hạm lớn có vai trò đáng kể. Chúng có thể được triển khai thường trực ngay tại những điểm tranh chấp, với mục tiêu thực chất không phải là để chiến đấu, mà là để thị uy. Có thể hiểu hoạt động mua các chiến hạm lớn gần đây của Philippines là nhằm mục tiêu này. Thực tế cho thấy việc thị uy trực tiếp như vậy đôi khi là cách hữu hiệu để bảo tồn chủ quyền. Chẳng hạn như gần đây, Nhật Bản không hề thua kém Nga về trình độ công nghệ, nhưng vẫn phải chịu lép vế trước Nga do thiếu sự hiện diện về quân sự tại khu vực tranh chấp chủ quyền.

Cần chú trọng cho phát triển thị trường

Bài học lịch sử lớn nhất về an ninh biển mà chúng ta có thể rút ra cho Việt Nam là cần đẩy mạnh phát triển thương mại quốc tế. Những giai đoạn thị trường của chúng ta bị cô lập do nguyên nhân chủ quan hay khách quan thì đều kéo theo nguy cơ cao bị tụt hậu và mất an ninh chủ quyền.

Sự đẩy mạnh quan hệ ngoại giao với tất cả các nước, đặc biệt là các cường quốc, trong thời gian qua là đúng đắn, nhưng chưa đủ. Chúng cần được bảo chứng bằng những lợi ích kinh tế, đặc biệt là các hoạt động thương mại trên biển. Các hoạt động giao thương quốc tế nếu được tích cực đẩy mạnh trong vòng chủ quyền của Việt Nam sẽ biến quyền lợi về an ninh biển của Việt Nam thành vấn đề an ninh của đối tác quốc tế. Những dàn khoan dầu ngoài khơi của chủ đầu tư từ các cường quốc khác nhau liên doanh với Việt Nam sẽ làm tăng cam kết đảm bảo an ninh giữa các bên liên quan. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện các tuyến đường giao thông kết nối thị trường của Lào với các cảng biển chiến lược của Việt Nam cũng sẽ làm nâng tầm quan trọng của tuyến đường biển quốc tế qua các hải cảng của Việt Nam.

Nhưng giải pháp cơ bản nhất là Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện năng lực thị trường của mình nhằm tạo sự gắn bó lâu dài với thị trường quốc tế. Một thị trường yếu kém, trình độ công nghệ lạc hậu, thì việc xây dựng nhiều cảng biển, nhiều dàn khoan dầu ngoài khơi, sẽ không làm tăng tính kết nối quốc tế trong lâu dài mà chỉ tạo điều kiện để nước ngoài rút kiệt tài nguyên tự nhiên hiện có của quốc gia.

Sự phát triển đúng hướng về tiềm lực quân sự cũng sẽ làm tăng vị thế của quốc gia trên các bàn đàm phán, tức là giúp tăng triển vọng cho hòa bình và ổn định. Việc phát triển thị trường cần song hành đồng bộ với khả năng bảo vệ thị trường. Sự phát triển đúng hướng về tiềm lực quân sự cũng sẽ làm tăng vị thế của quốc gia trên các bàn đàm phán, tức là giúp tăng triển vọng cho hòa bình và ổn định. Trong đó, về lâu dài khi khả năng kinh tế đáp ứng được thì việc mua các chiến hạm lớn là cần thiết. Chúng có thể được triển khai tại các điểm tranh chấp, buộc đối phương phải rút lui khỏi các hoạt động xâm phạm chủ quyền, ví dụ như thăm dò hay xây dựng cơ sở khai thác dầu khí, hoặc đe dọa phong tỏa các tuyến giao thương huyết mạch trên biển của quốc gia.

Bài đăng trên Tia Sáng
(http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=114&CategoryID=7&News=4827)


Friday, 21 October 2011

Vị thế và Không gian - Phần 2: Luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học




Trong Phần I: Luận về cội nguồn sáng tạo nghệ thuật, chúng ta đã đề cập tới một bản năng cơ bản của người, đó là luôn tìm cách đạt được một vị thế cân bằng trong không gian. Có thể gọi đây là một bản năng cơ bản vì nó là nền tảng ẩn sau đa số, nếu không nói là tất cả mọi bản năng khác của con người. Nó cũng chính là cội nguồn khiến con người hướng tới tôn giáo và khoa học.

Bản năng đằng sau mọi bản năng

Như đã đề cập trong Phần I, khái niệm không gian – có thể hiểu là nhận thức của con người về thế giới – có nhiều hình thái đa dạng, từ những không gian thân thuộc tới những không gian rộng lớn, từ những không gian cụ thể tới trừu tượng.

Nhiều ví dụ minh họa cho thực tế là con người cũng như mọi sinh vật, luôn muốn đạt được những vị thế nhất định trong không gian.

Có người khao khát muốn khẳng định vị thế của mình trong không gian của các công việc, có thể là qua vị trí công việc, hoặc qua mức độ hoàn thiện của sản phẩm.

Có người lại mong muốn có sự hiện hữu của mình trong ánh mắt một cô gái, tức là muốn giành được một vị thế trong không gian tâm tưởng của cô ta. Trong tình dục, ham muốn  xâm chiếm và giao thoa về thể chất của mỗi người có mối liên quan mật thiết tới cảm giác ham muốn đạt được một vị thế của mình bên trong người kia, và thể hiện cao độ nhất ở trạng thái cực khoái khi người ta cảm thấy vị thế ấy là tuyệt đối cân bằng và viên mãn.   

Người ta vẫn nói rằng bản năng sinh tồn là một trong những bản năng mạnh nhất, nhưng bản năng hướng tới vị thế cân bằng trong không gian còn mãnh liệt hơn. Có những người yêu nước đã tuẫn tiết để bảo vệ khí tiết, và ngược lại, cũng có những người có thể trầm cảm tới mức tự sát. Đối với họ, sự sống có lẽ cũng quý giá nhưng nỗi đau do bất cân bằng trong tinh thần còn sâu sắc hơn, và sự hi sinh được coi là cần thiết để giành lại vị thế cân bằng.

Nguồn gốc của tôn giáo

Trong bài viết về Tôn giáo và Khoa học trong cuốn Thế giới như tôi thấy, Einstein cho rằng con người tạo ra tôn giáo vì sự sợ hãi, rằng họ hình dung ra những vị thần linh để có thể cầu khẩn, lễ bái với mong muốn được phù hộ giúp vượt qua các thiên tai, bệnh dịch, thú dữ, và cái chết. Nhận định này của nhà bác học thiên tài có vẻ như hợp lý, nhưng chưa làm sáng tỏ được hai vấn đề cơ bản.

Thứ nhất, vì sao đa số các tôn giáo khởi thủy thường là đa thần?

Thứ hai, vì sao các tôn giáo cổ cũng đồng thời có chức năng mô tả về nguồn gốc xuất xứ của thế giới, với những sử thi kể về việc tạo lập trời đất và thế giới tự nhiên?  

Nếu con người tạo ra tôn giáo chỉ để trấn áp sự sợ hãi thì thực ra người ta chỉ cần tưởng tượng ra một vị thần có quyền uy tối thượng với khả năng giải quyết mọi vấn đề, và mỗi khi có chuyện gì cấp bách thì chỉ cần cúng tế một mình vị này là đủ giải tỏa mọi sự bất an. Như vậy sẽ hoàn toàn không cần phải xây dựng nên một thứ tôn giáo đa thần với vô số những thần sông, thần núi, thần cây, v.v, càng không cần phải thêm thắt vào tôn giáo những sử thi dông dài nào đó.

Những câu hỏi đó gợi thấy rằng tôn giáo không đơn thuần chỉ để giải tỏa nỗi sợ hãi, và có lẽ phải đến do một bản năng căn bản hơn. Đó là nhu cầu hướng tới một vị thế cân bằng, với hai bước cơ bản quen thuộc: định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng.

Hình tượng các vị thần được xây dựng chính là để hình tượng hóa, cụ thể hóa những sự vật và thế lực bí ẩn mà con người chưa thấu tỏ. Đó là một sự xác lập nhận thức về thế giới, hay nói một cách cơ bản hơn là định hình không gian.

Sau bước định hình không gian là bước xác lập vị thế cân bằng, cũng chính là công dụng của các nghi lễ thờ phụng và cúng tế. Thông thường, chúng ta hiểu một cách thực dụng rằng việc thực hiện những lễ này là để cầu xin cho một công việc cụ thể nào đó. Nhưng suy xét một cách sâu xa hơn, chúng ta thấy rằng nghi thức thờ phụng và cúng tế là một hình thức giao tiếp, qua đó giúp con người xác lập vị thế của bản thân mình trước các đấng thần linh, tức là xác lập một vị thế của mình trước thế lực bí ẩn mà vị thần linh ấy làm đại diện. Hình thức ấy sẽ được con người cử hành cho tới khi nào cảm thấy an tâm, tức là khi đã xác lập được một vị thế cân bằng trong không gian mà cả người và thần linh cùng hiện hữu.

Chính từ nhu cầu định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng mà đa thần giáo và các sử thi được hình thành. Các vị thần linh của tôn giáo đa thần là những hình tượng cụ thể, giúp mô phỏng lại sự phức tạp của thế giới mà con người nhận thức được, bao gồm cả thế giới tự nhiên và thế giới tinh thần với những phạm trù trừu tượng (ví dụ như nữ thần tình yêu và sắc đẹp trong thần thoại Hi Lạp). Quyền uy và số phận của họ gắn liền với những sử thi kể về sự hình thành và biến hóa của trời đất, không đơn thuần phục vụ chức năng chuyện kể giải trí, mà thực sự là cách thức giúp con người định hình thế giới và sự vận hành của nó.

Điểm mù của nhà khoa học

Nếu như trong tôn giáo con người định hình thế giới qua các không gian của huyền thoại và sử thi, thì trong khoa học, con người định hình thế giới qua không gian của hệ thống các tiên đề, giả thuyết, định lý, v.v. Đồng thời, bên trong không gian mang tính tổng quan ấy, mỗi một bài toán lý thuyết hay một thách thức về công nghệ, cũng là một không gian riêng biệt.

Sau khi đã định hình được những nét cơ bản của một không gian, nhà khoa học nỗ lực xác lập vị thế cân bằng của mình, bằng cách chứng minh tính hợp lý xuyên suốt các chi tiết tồn tại bên trong không gian ấy. Đối với lĩnh vực khoa học ứng dụng và công nghệ, không gian của nhà khoa học bao hàm cả những sự vật cụ thể của thực tiễn đời sống, và bản năng cũng thúc đẩy nhà khoa học sẽ nỗ lực tìm cách chứng minh tính hợp lý của lý thuyết khi kết nối với những sự vật này.

Mỗi một thông tin chưa hợp lý hoặc chưa rõ ràng đều là những yếu tố đe dọa tới sự cân bằng của toàn hệ thống, gây cảm giác lung lay vị thế của nhà khoa học trong không gian sự vật được nghiên cứu. Và đây chính là nhiên liệu thổi bùng lên niềm đam mê tìm hiểu và khám phá. (Liên quan tới điều này, trong Phần I, chúng ta đã đề cập rằng vị thế của con người trong không gian chính là cội nguồn của cảm xúc).

Nhưng bản thân nhà khoa học lại rất thụ động trong việc nhận biết bản chất gốc rễ của những quy trình này.
Nếu bạn hỏi một nhà sáng chế công nghệ rằng vì sao người đó lại đam mê công việc của mình, có lẽ bạn sẽ nhận được câu trả lời rất cụ thể và thực dụng, chẳng hạn như: người đó nghiên cứu là vì muốn một vật gì đó chạy nhanh hơn, hoặc tốn ít năng lượng hơn, bền hơn, hoặc là giúp cho ai đó sống khỏe hơn, vui hơn, giàu có hơn, v.v. Nhưng nếu bạn lại tiếp tục hỏi vì sao mà những lý do thực dụng ấy lại giúp đem đến niềm đam mê trong công việc nghiên cứu, thì rất có thể nhà công nghệ sẽ không thể trả lời được câu hỏi của bạn.

Tương tự như vậy, nếu bạn hỏi một nhà nghiên cứu khoa học cơ bản, rằng vì sao người đó lại đam mê công việc của mình, thì câu trả lời có lẽ cũng sẽ gắn với những vấn đề khá cụ thể, chẳng hạn như: người đó muốn nghiên cứu về lý thuyết A để bổ sung, mở rộng, điều chỉnh, hoặc thay thế cho lý thuyết B nào đó có nhiều điểm hạn chế. Và nếu bạn vẫn tiếp tục truy hỏi tới tận gốc vấn đề, rằng vì sao cái lý do tinh vi mà người đó đưa ra ấy, lại giúp đem đến niềm đam mê trong nghiên cứu, thì rất có thể là nhà khoa học cũng không thể nào trả lời được câu hỏi của bạn.

Đó chính là điểm mù của nhà khoa học. Họ nghiên cứu tỉ mỉ và sâu sắc về các loại tri thức, giúp mang đến những giá trị thực dụng to lớn, đem lại niềm vui và cải thiện chất lượng cuộc sống cho nhiều người; nhưng họ không thể lý giải căn nguyên bản năng đem đến niềm đam mê trong công việc của mình.

Giống như dao sắc không gọt được chuôi, các nhà khoa học là những người tài ba trong việc suy xét những sự vật hóc búa, nhưng họ thật bối rối khi phải tự suy xét chính mình.

Vượt thoát

Tự suy xét đòi hỏi con người phải bước ra ngoài không gian quen thuộc cố hữu.

Điều này có thể xuất phát từ bản năng thường tình, khi người ta cảm thấy sự bất cân bằng trong không gian của hiện tại.

Nhưng những người có trí tuệ nhạy bén sẽ cảm nhận được sự bất cân bằng sớm hơn những người khác. Nhờ đó mà họ vượt thoát khỏi trạng thái cân bằng trì trệ trong một không gian nhỏ hẹp tạm thời để hướng tới sự cân bằng trong một không gian rộng lớn hơn.

Một quả táo rơi xuống đầu là chuyện nhỏ nhặt thường tình, nhưng đủ để giúp Newton vượt thoát khỏi những lý thuyết vật lý cũ kỹ trước đó để sáng tạo ra thuyết vạn vật hấp dẫn.

Mỗi nhà khoa học được vinh danh trong lịch sử đều là những người sáng tạo ra các không gian mới, hoặc kết nối được các không gian biệt lập cố hữu – cũng tức là tạo ra một không gian mới bao trùm lên những không gian cũ.

Phủ quyết Thượng đế và sự vong bản

Nhờ có những bộ óc lớn lao được kích thích bởi bản năng vượt thoát mà cái không gian chung của khoa học ngày càng được mở mang bờ cõi. Tri thức khoa học phát triển thành một hệ thống chặt chẽ, quy mô hùng vĩ, và không ngừng biến đổi sinh động.

Cái không gian được xây dựng trên các tiên đề, giả thuyết, và vô vàn những kinh nghiệm thực nghiệm ấy đủ phong phú để lôi cuốn những tâm hồn non trẻ, đáp ứng các nhu cầu cơ bản về định hình không gian và xác lập vị thế cân bằng của họ. Họ sẽ đủ tự tin và tự mãn để phủ quyết Thượng đế và tôn giáo.

Nhưng người ta không biết rằng Thượng đế cũng chính là biểu tượng sơ khai nhất của tinh thần vượt thoát. Tôn giáo và khái niệm Thượng đế từ cổ xưa đã phục vụ con người với vai trò làm điểm tựa tinh thần, giúp con người vượt qua những nhọc nhằn trong cuộc sống, động viên họ rằng ở bên ngoài không gian hạn hẹp đến từ những trải nghiệm hữu hạn chắp vá trước mắt, là một không gian rộng lớn hơn, thăm thẳm vô biên, đang chờ đợi sự vươn tới để tương tác và trải nghiệm từ phía con người.

Bát Nhã, con đường của trí tuệ trong tương lai

Tâm lượng rộng lớn, biến khắp Pháp giới. Dùng đến thì rành rẽ phân minh, ứng dụng liền biết hết thảy. Hết thảy là một, một là hết thảy. Đến đi tự do. Tâm không ngăn ngại, tức là Bát Nhã
(Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn kinh, phẩm Bát Nhã)

Trong một thế giới tiến bộ, khi con người có ý thức sâu sắc về vị thế và không gian, họ sẽ tự chủ động vượt khỏi những không gian hữu hạn giả tạm. Điều đó tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu tự nhiên là duy trì vị thế cân bằng trong một không gian vô hạn.

Trước kia, người ta đã đạt được điều này thông qua việc tương tác với một vị Thượng đế trong tâm tưởng. Tuy nhiên, trong tiến trình định vị không gian và xác lập vị thế cân bằng, con người văn minh đã hình thành nên một bản năng khác không kém phần tự nhiên, đó là tinh thần duy lý khoa học.

Sự tương tác giữa hai nhu cầu đối chọi nhau đó sẽ dẫn con người vượt thoát tới một trạng thái đặc biệt, vừa không lìa bỏ cái duy lý, vừa kết nối được với cái vô hạn. Đó là Trí tuệ Bát Nhã.

Trong thế giới ấy, mỗi hơi thở đều có sự kết nối với không gian vô hạn. Trí tuệ và cảm xúc được khai phóng. Các không gian hữu hạn trong tâm tưởng sẽ không bị triệt tiêu để đảm bảo tính duy lý, nhưng chúng có thể dễ dàng phóng chiếu thành vô vàn các biến hóa không gian khác nhau, và tùy duyên mà kết tinh lại vào không gian nào có sự lắng đọng cao nhất.

Khi ấy, người tu hành, nhà khoa học, hay người nghệ sỹ, tất cả đều là một.

(Bài đăng trên Tia Sáng, số ra 20/10/2011)


Wednesday, 5 October 2011

Vị thế và Không gian - Phần 1. Luận về cội nguồn sáng tạo nghệ thuật

Vị thế

Trong thế giới tự nhiên vạn vật đều thường trực đi tìm vị thế cân bằng.

Một vật vô tri như hòn đá cũng biết tự lăn từ trạng thái bất cân bằng sang vị thế cân bằng.

Trong thế giới sinh vật, tất cả mọi cá thể cũng đều phải nỗ lực hết mình để tồn tại, duy trì một chỗ đứng trong bầy đàn và quần thể sinh thái. Vị thế ấy cũng phải cân bằng. Nếu không, sớm muộn cá thể ấy sẽ bị môi trường đào thải, hoặc là cá thể áp đặt được sự tồn tại của nó trong khi môi trường bị buộc phải biến đổi.  

Không gian

Vị thế luôn gắn với không gian. Vị thế của một đối tượng bất kỳ là tương quan giữa đối tượng ấy với không gian chứa đựng nó.

Không gian là gì? Đối với con người, không gian là một khái niệm phức tạp đa nghĩa. Một khoảng không có thể được coi là không gian. Một khoảng không với đầy ắp các sự vật chứa trong nó cũng đồng thời là không gian, như không gian nhà trường hay không gian một cơ quan. Không gian cũng có thể trừu tượng, như không gian gợi mở trong ánh mắt, không gian hoài niệm, không gian xã hội, không gian văn hóa. Đa phần không gian trong tâm tưởng con người đều ít nhiều hàm chứa cả chiều thời gian.

Năng lượng và cảm xúc

Năng lượng nảy sinh từ vị thế bất cân bằng. Hòn đá bị xô nghiêng thì tiềm ẩn trong nó thế năng.

Tương tự như vậy, một sinh vật trong vị thế sắp bị tiêu diệt sẽ bùng phát ý chí cầu sinh. Cảm xúc là một dạng năng lượng trong tinh thần.

Cội nguồn cảm xúc của người

Ngay từ khi ra đời, bản năng đầu tiên của con người là xác nhận không gian xung quanh thông qua hơi thở, âm thanh, hình ảnh, những tiếp xúc va chạm. Tất cả những tín hiệu cơ bản tạo cơ sở để con người định vị bản thân mình, định vị không gian, và bắt đầu hướng tới một vị thế cân bằng. Và kể từ đó, quá trình này sẽ lặp lại mỗi khi bước vào một không gian mới mẻ bất kỳ.

Cảm xúc của người xuất phát từ vị thế của người đó trong không gian.

Khi đang yên vị mà bất thần bị mất cân bằng, người ta sẽ hụt hẫng và hốt hoảng, thậm chí đau đớn.

Tiếng khóc đầu đời của con người vừa là một bản năng tự vệ - hơi thở đầu tiên của đứa trẻ sau lọt lòng mẹ - cũng đồng thời là phản ứng tự nhiên để tự cân bằng trong tinh thần của một sinh linh.

Khi trong xu hướng dần xa rời vị thế cân bằng, người ta buồn bã, rã rời.

Khi trong xu hướng đạt tới vị thế cân bằng, người ta dễ chịu, vui vẻ.

Khi bất thần cảm thấy mất cân bằng, nhưng nhận thấy mình sẽ lập tức trở về vị thế cân bằng, hoặc bỗng nhận ra mình vẫn đang ở vị thế cân bằng, người ta bật cười nắc nẻ. 

Khi bị mất chủ động và không định vị được đâu là vị thế cân bằng trong một không gian xa lạ, người ta nôn nao.

Mọi cảm xúc dù tinh tế, phức tạp tới đâu thì đa số đều phản ánh một vị thế nào đó của con người trong không gian, dù là không gian hiện hữu có thật hay không gian trong tâm tưởng.
 
http://photos-g.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash4/300398_1547634507230_1726081075_788798_310041020_a.jpg
Hình vẽ trên hang động ở Lascaux, Pháp. Người xưa vẽ để biểu đạt những sự vật để lại trong họ ấn tượng sâu sắc nhất. Đó là sự định hình đầy tùy hứng các không gian trong tâm tưởng. Chúng ta không biết mục đích thực dụng cụ thể của người vẽ là gì, nhưng một cách tự nhiên vô thức, sự vẽ đó tạo ra cảm giác hiện hữu sống động trong thế giới. Nói theo cách khác, đó là một vị thế trong tâm tưởng về mối quan hệ giữa con người với tạo hóa.
Giải mã bí ẩn của nghệ thuật

Âm nhạc có từ cổ xưa nhưng không ai biết vì sao những âm thanh và giai điệu của chúng lại khuấy động thành cảm xúc. Vì sao âm nhạc dù không lời vẫn có thể khiến người ta mỉm cười hoặc bật khóc?

Bí ẩn ấy vốn thật đơn giản.

Nghệ thuật là sự phản ánh những vị thế phong phú, phức tạp trong lòng người.

Bằng việc sắp xếp bố cục giai điệu âm thanh qua các nốt cao và thấp, tiết tấu nhanh và chậm, các nhạc sỹ đã gieo vào lòng người nghe những vị thế khác nhau của không gian trong tâm tưởng.

Nghe khởi đầu bản giao hưởng số 9 của Beethoven, thính giả cảm thấy choáng ngợp và nôn nao, đó là do âm nhạc của người nghệ sỹ đã tài tình sử dụng độ chênh giữa các nốt, và độ chênh giữa tiết tấu bản nhạc so với nhịp thở thông thường của con người, để lôi tuột chúng ta vào một vị thế chơi vơi trong tâm tưởng.

Sự sắp xếp bố cục các ấn tượng trong không gian một tác phẩm nghệ thuật, dù đó là âm nhạc, hội họa, kiến trúc, văn học, hay điện ảnh, tất thảy đều tạo thành cảm xúc được là nhờ những bố cục ấy gieo vào lòng người thưởng thức những vị thế khác nhau trong không gian. Cùng một câu chuyện, nhưng kể thế nào để người đọc cảm thấy gay cấn, hồi hộp, đó là cái tài của nhà văn sắp xếp luân chuyển các không gian sự vật, đưa người đọc thám hiểm những vị thế kịch tính sinh động trong đời sống.

http://photos-a.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-ash4/312132_1547635787262_1726081075_788799_5680830_a.jpg
Symphony số 9 của Beethoven
Chúng sinh ngụp lặn trong không gian ảo

Đời sống khắc nghiệt luôn có những sức ép. Khi không chịu được sức ép, người ta tìm đến những không gian ảo, nơi có thể dễ dàng hơn trong việc đạt được một vị thế cân bằng. Không gian ảo dễ chịu hơn không gian thật nên chúng sinh, trong đó có con người, đều ngụp lặn trong không gian ảo.

Đâu dễ để phân biệt giữa không gian ảo, không gian thật, khi mà tất cả đều là do những tín hiệu của não bộ tạo thành sự hình dung trong tâm tưởng.

Càng khó hơn khi cái ảo quá phong phú, đa dạng. Một chén rượu, một liều thuốc kích thích, hay đơn giản chỉ là một suy nghĩ bay bổng. Nghệ thuật cũng góp phần đắc lực tạo ra những không gian ảo.
Sự biến đổi vô thường theo thời gian và đẳng cấp nghệ thuật

Con người luôn ít nhiều có thiên hướng tìm cái thật, bỏ cái ảo. Mức độ ít nhiều đó tùy thuộc vào khả năng cảm nhận những biến đổi vô thường của các không gian theo chiều thời gian. Khi cảm thấy rõ rệt sự biến đổi mạnh mẽ của sự vật qua thời gian, người ta nhận ra sự mong manh của những gì giả tạm, và bản năng tự định vị mình khiến họ tìm đến những gì bền vững hơn.

Thiên hướng ấy là cơ sở để phân cấp về nhu cầu đối với nghệ thuật. Có thể định nghĩa, một tác phẩm nghệ thuật đẳng cấp là tác phẩm mang đến những rung động phong phú và lâu bền cho người thưởng thức.

Bởi vậy, nghệ thuật tuy tạo ra những không gian ảo, nhưng một tác phẩm nghệ thuật đẳng cấp vẫn tạo ra được những lay động chân thật. Trong thế giới vô vàn những mê lầm và biến đổi vô thường, những tác phẩm nghệ thuật đẳng cấp có khả năng chinh phục con người từ thế hệ này qua thế hệ khác. Sở dĩ như vậy là vì cái rung động chúng tạo ra trong lòng người không đơn thuần chỉ là một vị thế nhất thời trong một không gian riêng lẻ. Nó là cái rung động vĩnh hằng vượt qua thời gian và xuyên qua nhiều không gian. 
 
http://a7.sphotos.ak.fbcdn.net/hphotos-ak-snc7/s720x720/308966_1547637307300_1726081075_788801_856884897_n.jpg
Số 1(1948) – Jackson Pollock. Nghệ thuật trừu tượng của Pollock là sự mô phỏng một tiến trình phát triển của vị thế, với vô vàn năng lượng được khuấy động từ các trạng thái hưng phấn bất cân bằng, để cuối cùng đạt đến một vị thế cân bằng mang tính tổng thể.

Nghệ sỹ bậc thầy

Từ khi đặt nét cọ đầu tiên trên toan trắng, họa sỹ đi tìm cho nó một vị thế. Vị trí nhát cọ ở đâu, màu sắc như thế nào, độ đậm nhạt ra sao, đều bị chi phối bởi cảm xúc của người nghệ sỹ. Nhưng sự biểu đạt có đúng thần thái hay không là do công phu tài năng quyết định.

Người nghệ sỹ bậc thầy cần sở hữu hai phẩm chất đặc biệt. Thứ nhất, người đó đạt đến trình độ “thân kiếm hợp nhất”, tức là có khả năng biểu đạt được xúc cảm một cách tinh tế, chính xác, và trọn vẹn ra tác phẩm. Thứ hai, cảm xúc của người đó có đủ sự phong phú và sâu sắc qua vô vàn những không gian thật, ảo trong đời sống.

Được như vậy thì trên toan vẽ không chỉ đơn thuần là những nét cọ. Nó là vô vàn những rung động được chắt lọc một cách sống động. Những rung động ấy gieo vào lòng người xem những cảm nhận mới mẻ về vị thế và không gian, thậm chí thay đổi hoàn toàn cách nhìn của họ đối với bản thân và thế giới.

Trong đó, sẽ có những rung động mạnh mẽ, âm vang hơn tất thảy, đồng điệu với rung động trong nội tâm của nhiều người thưởng thức trong một thời đại, hay thậm chí nhiều thời đại.  

Như vậy, người nghệ sỹ bậc thầy là kẻ cùng ngụp lặn giữa những không gian ảo trong tâm tưởng như mọi chúng sinh linh khác. Họ tạo ra các tác phẩm là những không gian ảo như công việc của mọi nghệ sỹ bình thường khác. Nhưng tác phẩm của một bậc thầy sẽ luôn thuyết phục được nhiều thế hệ người xem, bằng những lay động vô tận.

(Đón xem phần 2: luận về cội nguồn tôn giáo và khoa học)
Bài đăng trên Tạp chí Tia Sáng, số ra ngày 05/10

Tuesday, 6 September 2011

Một cơ hội để làm lại

Bảo tàng mỹ thuật Singapore
Trải qua thời gian, nhiều di sản kiến trúc của Hà Nội đã mai một vì biến động thời cuộc và sự vô cảm của con người. Ngày nay, việc xây dựng quy hoạch mới là một cơ hội để chúng ta cứu vãn những gì còn lại, và xây dựng một nền tảng văn hóa cốt lõi cho thế hệ mai sau.

Ba điều may mắn

Những ai đã từng đặt chân đến Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, nếu có dịp tới thăm Bảo tàng Mỹ thuật Singapore, sẽ không khỏi lấy làm tiếc cho bảo tàng của nước bạn và thấy rằng Việt Nam thật may mắn. Cùng được cải tạo từ các công trình thuộc địa do người Pháp để lại, nhưng bảo tàng của Singapore bị lạc lõng trong một không gian đô thị nhạt nhẽo, lọt thỏm giữa những nhà công trình vượt trội chiều cao nhưng đường nét kiến trúc khá tầm thường. Xét từ bên ngoài nhìn vào, một công trình văn hóa tầm quốc gia như vậy coi như đã bị bức tử.

Ngược lại, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam có một vị trí vô cùng đắc địa, khi nhìn ngay sang đối diện bên kia đường là khuôn viên cổ kính tuyệt đẹp của Văn Miếu.

   


Hai công trình văn hóa khi đặt cạnh nhau phản chiếu nhau một cách tự nhiên, hình thành mối quan hệ đăng đối vô hình, làm tôn giá trị của nhau lên. Hãy hình dung Văn Miếu khi không có Bảo tàng Mỹ thuật đứng cạnh, thì sẽ bị bức tử bởi một mớ hỗn độn các cửa hiệu, ngân hàng, và nhà ở dân sinh. Ngược lại, nếu đặt Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở một ví trí khác, dù có là giữa một không gian lý tưởng với quần thể hàng trăm các công trình văn hóa đặc sắc nào đó, thì cũng không thể so với khi đứng cạnh Văn Miếu – công trình mang trong nó sức nặng từ hàng nghìn năm văn hiến của người Việt.

Ở đây, người Việt có ba cái may mắn. Thứ nhất là đất nước ta có một lịch sử và nền văn hiến lâu dài. Thứ hai, lịch sử và nền văn hiến ấy tới nay vẫn còn lại những di sản kiến trúc quý báu. Thứ ba, những người lãnh đạo trong thế kỷ trước đã quyết định sáng suốt trong việc đặt Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam bên cạnh Văn Miếu.

Lịch sử đang mai một

Trong trường hợp này, những ai vô cảm với lịch sử sẽ không ý thức được ba điều may mắn trên đây. Khi nhìn vào một quần thể hay một công trình kiến trúc nào đó, nếu bỏ qua yếu tố lịch sử công trình, thì người ta sẽ chẳng thấy gì ngoài hình khối, đường nét, màu sắc, chất liệu bề mặt. Những yếu tố thuần túy về không gian này sẽ chỉ được thấy trong trạng thái hiện tại, không còn bất cứ mối gắn kết nào với quá khứ hay tương lai. Điều này làm xóa bỏ gần như hoàn toàn giá trị của công trình, Văn Miếu trở nên không khác là mấy so với một cái đình lớn, còn Quảng trường Ba Đình thì trở nên na ná như một sân vận động.

Ở những cộng đồng có nền văn hóa phát triển, con người có đủ trình độ thẩm mỹ để nhìn nhận các công trình kiến trúc trên cả hai trục không gian và thời gian. Cảm quan lịch sử sâu sắc giúp họ có ý thức trân trọng bảo tồn những công trình mà quá khứ để lại.

Trong thiết kế, quy hoạch, những nền văn hóa phát triển là nơi biết phối hợp hài hòa giữa cái cũ và cái mới, tránh để cho cái cũ bị cái mới xâm lăng. Khi người Pháp xây một trạm bơm gần khu vực lăng tẩm Huế, họ đã rất cẩn trọng, công phu đưa vào công trình thuần túy kỹ thuật này những hoa văn, họa tiết, để đảm bảo tương quan hài hòa với các công trình cổ lân cận.

Trong xây dựng, họ biết lựa chọn tinh tế những chất liệu xây dựng phù hợp để giúp diện mạo công trình luôn được duy trì hài hòa theo những biến động ngoại cảnh của thời gian. Những bức tường mộc mạc phong sương trên những ngôi nhà cổ, dù là của người Ý, người Pháp, người Inca, hay người Tây Tạng, không chỉ ẩn chứa giá trị lịch sử cô đọng, mà còn hút hồn du khách tham quan, đem lại giá trị kinh tế không nhỏ cho những xứ sở này.

Ở Việt Nam, thiếu cảm quan lịch sử là một hiện tượng phổ biến. Với nhãn quan hời hợt, người ta chỉ nhìn thấy sự phôi pha cũ nát trên những di tích cổ là nhếch nhác, đáng phải thay thế, mà đâu thấy rằng ẩn sau lớp vỏ thời gian vô hình là vẻ đẹp từ nội lực công trình đã đứng vững qua những thăng trầm, biến động của thời cuộc. 

Vì thiếu ý thức nên đa số các hoạt động duy tu đều chắp vá, không tôn trọng một trong hai nguyên tắc cơ bản khi xử lý các công trình cổ: hoặc là làm cho nó có diện mạo giống như khi vừa được xây; hoặc là chỉ làm chậm lại tối đa quá trình biến đổi tự nhiên theo thời gian của công trình.

Vậy nên, ngay giữa khu phố cổ Hà Nội ồ ạt rộ lên phong trào ốp đá granit và các vật liệu công nghiệp. Những thứ vật liệu này trải qua thời gian không tránh khỏi xỉn màu, xuống sắc, nhưng không thể nào có được vẻ phong sương thâm trầm của những di tích cổ. Nhưng chẳng sao, ai có tiền thì lại tiếp tục dỡ ra, làm mới từ đầu. Hệ lụy là những công trình cổ bị thay thế dần bằng là những công trình mới có, cũ có, nhưng tuyệt nhiên không có dấu ấn gì đặc sắc để biểu hiện cho thời gian, càng không có gì để gọi là hồn cốt của lịch sử. Ngay cả các chùa chiền cũng thay áo, lòe loẹt nước sơn công nghiệp. Có nơi còn dỡ đi ngói chùa tự nhiên, thay bằng mái tôn giả ngói.



Mô hình nhà Quốc hội mới

Các cấp chính quyền chắc chắn biết về những hiện tượng này nhưng làm ngơ vì chính họ cũng hoàn toàn thiếu ý thức, mà có lẽ đúng hơn là thiếu trình độ. Điển hình nhất là việc người ta tân trang tháp nước Hàng Đậu, bằng cách trát vữa lên nguyên gốc mặt tường đá, tạo ra một bề mặt mới vừa không trung thành với nguyên bản, vừa xấu về thẩm mỹ. Một ví dụ điển hình khác là cách đối xử với di tích Hội Khai trí Tiến Đức, công trình lịch sử gắn bó những người trí thức Hà Nội một thời. Ngày nay, người ta biến di tích này thành cửa hàng ăn uống, phía đối diện thì cho phép dựng nên một cửa hàng với tên gọi không hề phù hợp chút nào: Playboy.

Phải chăng là chúng ta đang cố gắng trở nên giống với Singapore, một đất nước – thành phố hào nhoáng nhưng thiếu vắng giá trị lịch sử.  

Quy hoạch Hà Nội, một cơ hội để làm lại

Người Mỹ có tầm nhìn xa trông rộng hơn nhiều dân tộc khác khi quy hoạch cho thủ đô Washington DC của họ thành một khu trung tâm văn hóa đậm đặc, trong đó có sự kết hợp hài hòa giữa tòa nhà Quốc hội Capitol Hill, hệ thống Bảo tàng Smithsonions, với các công trình kỷ niệm danh nhân lịch sử. Các thế hệ người Mỹ đều có quyền tự hào về quần thể hùng vĩ này, nơi tập trung quyền lực chính trị đại diện cho người dân cũng là nơi dựng nên những di tích lịch sử để trân trọng tưởng nhớ những vị anh hùng lập quốc, đồng thời cũng lại là nơi nâng niu bảo tồn những giá trị tinh hoa của nhân loại.

Đa số các thủ đô khác trên thế giới không thể làm được như Washington DC. Có thể vì khi làm quy hoạch, họ không có được tầm nhìn xa như người Mỹ. Hoặc cũng có thể là họ không can đảm, không dám vượt qua những hạn chế, khó khăn về kinh tế xã hội trong nhất thời để đổi lấy cái sang trọng về văn hóa trong lâu dài. Để tới khi đất nước đã giàu mạnh về kinh tế, muốn sang trọng về văn hóa thì đã quá muộn, lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. Trường hợp Bảo tàng Mỹ thuật Singapore là một ví dụ đặc thù.

Ngày nay, người Hà Nội chắc chắn vẫn đang có hai điều may mắn hơn người Singapore. Chúng ta có lịch sử lâu đời, và lịch sử đó vẫn còn để lại những di sản vô giá (dù con người đã vô cảm đánh mất đi rất nhiều). Để quy hoạch thủ đô một cách đúng đắn như người Mỹ, chúng ta chỉ cần có thêm điều may mắn thứ ba: những người lãnh đạo sáng suốt và có năng lực. Họ sẽ phải có trách nhiệm đặt ra những tiêu chuẩn cần thiết cho công tác bảo tồn di sản, và đảm bảo những công trình mới tôn trọng và hài hòa với các công trình cũ.

Hướng tới một quần thể kiến trúc làm trung tâm văn hóa

Trong quá khứ, Nhà nước đã sáng suốt khi đặt Bảo tàng Mỹ thuật cạnh Văn Miếu. Ngày nay, chúng ta có thể làm được hơn thế rất nhiều. Có thể mở rộng quần thể này thành một trung tâm văn hóa của Hà Nội. Ở đây có thể thấy ngay hai lợi thế rất lớn.

Thứ nhất, nếu kết nối được quần thể Nhà Quốc Hội, nền cung điện Lý – Trần, Quảng trường Ba Đình, Lăng Bác, Chùa Một Cột, Thành cổ Hà Nội với quần thể Lăng Miếu và Bảo tàng Mỹ thuật, thì sẽ tạo thành một cụm không gian văn hóa vô cùng giá trị, hội tụ được các yếu tố tinh hoa về lịch sử, chính trị, nghệ thuật (có thể bổ sung thêm cả khoa học nếu xây dựng một bảo tàng khoa học trong quần thể này). 

Thứ hai, việc kết nối này hoàn toàn trong tầm tay những người quản lý và hoạch định. Thay vì phải di dời, đền bù tốn kém cho những cụm dân cư, việc kết nối này chỉ liên quan tới việc thu hồi đất một số cơ quan Nhà nước. Không khó để chúng ta thay thế cụm cơ quan này bằng những chức năng sử dụng mới, như các bảo tàng hoặc vườn tượng danh nhân; trên cơ sở bảo tồn tối đa các công trình thời Pháp thuộc trong khu vực này.

Nếu làm được như vậy, diện mạo văn hóa của Hà Nội sẽ được nâng lên một tầm vóc mới. Quần thể kiến trúc trung tâm sẽ là một biểu tượng thường trực trong tâm thức người Việt, nhắc nhở chúng ta bảo tồn truyền thống quý báu, và trân trọng hướng tới những giá trị văn hóa tinh túy cốt lõi.

Monday, 27 June 2011

Đạo của sơn mài

Vàng và son là hai chất liệu điển hình của tranh sơn mài. Trong tiềm thức con người, vàng son tự nó đã tiềm ẩn tính phôi pha. Vàng son là khoảnh khắc ánh sáng bùng lên rạng rỡ, nhưng cũng đồng thời âm thầm nhắc nhở người ta rằng mọi ánh sáng đều có lúc phải tàn. 

Đa số các tác phẩm nghệ thuật sơn mài Việt Nam khai thác triệt để cái tứ này. Cái nắng mùa thu của Trần Văn Cẩn trong Mùa đông sắp đến (1960), hay cái nắng hoàng hôn sơn cước của Phan Kế An trong Nhớ một chiều Tây Bắc (1955), và cái nắng trên cánh đồng lúa, rặng tre làng của nhiều thế hệ nghệ sỹ sơn mài Việt Nam. 

Những ánh vàng son ấy có sự liên hệ mật thiết với cảm xúc về thời gian và ký ức. Sự xao động trong lòng người về những gì đã qua, đang qua. 

Đạo của sơn mài 

Khái niệm phôi pha chứa đựng một đạo lý và bản sắc riêng của sơn mài. Theo nghĩa đen, khi người họa sỹ mài lên bề mặt tranh sơn mài, thì chính là làm cho các hình ảnh, sự vật trong bức tranh phôi pha đi.

Đối với tranh sơn dầu, tranh lụa, tranh giấy, tranh tường, người họa sỹ vẽ chồng các lớp màu khác nhau lên mặt tranh. Còn với sơn mài thì người ta phải thêm công đoạn mài mòn đi.

Có thể đối với những họa sỹ mới nhập môn thì đây đơn giản chỉ là một thao tác kỹ thuật, nhằm giúp tác phẩm đạt được hiệu quả cuối cùng như mong muốn. Nhưng đối với các bậc thầy, công đoạn mài tranh không đơn giản chỉ là vậy. Nó không đơn thuần chỉ là một thao tác kỹ thuật, mà là một nghi thức rất khác biệt, tương tác với tâm hồn người sáng tạo qua một kênh hoàn toàn mới mẻ so với việc cầm bút vẽ.

Khi Nguyễn Gia Trí viết rằng: “Tôi tìm tòi và sáng tạo với tất cả linh tính. Không phải sáng tạo bằng mắt, bằng tay, mà gần như người mù sờ soạng, mò mẫm trong đêm tối để tìm cái đẹp. Như người mẹ mang thai không thể bắt con mình là gái hay trai, đẹp hay xấu, mà cầu mong ở con người mình, ở chính phúc đức và chính thể chất của mình sẽ sinh ra đứa con lành lặn đẹp đẽ”… thì đây là ông đang nói về công đoạn mài trong nghệ thuật sơn mài.

Đạo lý ẩn đằng sau việc mài tranh, nếu ai đó muốn cụ thể thành lời, thì có thể tạm phát biểu như sau: Vạn vật không tự dưng sinh, cũng không tự dưng diệt. Sinh và diệt là do vật này tương tác với vật kia. Để đến được khoảnh khắc hiện tại, tất thảy đều đã phải trải qua vô vàn những va đập và biến cố. Tất thảy đều đã và đang phôi pha. Bởi có phôi pha nên mới có biến hóa và sinh sôi.

Khi mà người nghệ sỹ mài lên mặt tranh - theo cách nói của Nguyễn Gia Trí là giống như người mù sờ soạng, mò mẫm trong đêm tối để tìm cái đẹp – thì đồng thời cũng là đang thay quyền tạo hóa, dựa vào xúc giác của da thịt và linh cảm trong tâm hồn mình, tạo ra các lực tương tác mang tính nhân tạo để mô phỏng lại những va đập, biến cố cần thiết giúp sự vật trong tranh có được hình tướng và thần thái đúng như chúng phải là. Chỗ mài ít. Có mài nhiều. Mài tới khi nào tâm hồn người nghệ sỹ linh cảm thấy tương quan về hình tướng và thần thái sự vật đạt đến độ chín.

Những hạt li ti trên bề mặt Chùa Thiên Mụ




  Chùa Thiên Mụ (1962) – Nguyễn Gia Trí


Bức tranh Chùa Thiên Mụ (1962) của Nguyễn Gia Trí có thể giúp chúng ta cảm nhận một cách trực quan về đạo của sơn mài.

Cũng giống như ở bút pháp pointilism của trường phái Ấn Tượng trên tranh sơn dầu, ấn tượng bề mặt của tranh sơn mài đến từ vô vàn những chấm nhỏ li ti. Kết quả do bàn tay mài giũa của người nghệ sĩ trên bề mặt tác phẩm. Chúng là bí quyết tạo nên sức biểu cảm đa dạng cho sự vật trong tranh. Tuy nhiên, khác với tranh Ấn Tượng vẽ bằng sơn dầu, bề mặt của sơn mài phẳng lỳ chứ không nổi cộm lên các vệt màu. Sự tương tác giữa các hạt li ti với ánh sáng bên ngoài tranh diễn ra âm bên dưới bề mặt phẳng lỳ này.

Bởi âm nên mới vang, vang rất sâu.

Những hạt li ti ẩn dưới bề mặt Chùa Thiên Mụ thổi vào từng ngóc ngách chi tiết của bức tranh ấn tượng sâu sắc về phôi pha. Mặt sân chùa, mái chùa, cây cỏ thiên nhiên, mỗi sự vật đều mang đậm dấu ấn tuổi tác, vẻ dãi dầu mưa nắng.

Ở đây, phải tính cả đến yếu tố tuổi tác của bản thân bức tranh. Khoảng thời gian gần 50 năm từ lúc ra đời tới nay đã phủ lên bề mặt bức tranh vẻ cũ kỹ cố hữu. Nhưng chỉ có ở sơn mài người ta mới có được cảm giác tuổi tác của bức tranh liên hệ mật thiết với sự vật được mô tả. Nếu là với sơn dầu hay bất kỳ chất liệu nào khác, dù tấm toan có cũ đến đâu thì vẫn không thể tác động tới ấn tượng của người xem về tuổi tác của sự vật được vẽ. Điều khác biệt ở đây là đặc thù chất liệu. Sơn dầu khi vẽ trên toan luôn tạo ấn tượng bề mặt mềm và trơ. Sơn mài vẽ trên bề mặt gỗ tạo ấn tượng bề mặt cứng và dễ/sẽ phai. Lớp kim loại dát trên bề mặt tạo thêm ấn tượng về sự mòn.

Nhưng khác biệt cơ bản nhất vẫn là tay mài của người nghệ sỹ. Qua sự mài giũa của Nguyễn Gia Trí, những chấm li ti rất mịn trên bề mặt Chùa Thiên Mụ một mặt phản ánh được chính xác từng thớ vật chất cấu thành nên sự vật, mặt khác tạo ra ấn tượng sâu sắc rằng sự vật đang mòn đi cùng thời gian. Chúng tương tác mạnh mẽ với ánh sáng, biểu cảm cho tính bền bỉ và mối liên kết mật thiết với nhau. Liên tục phôi pha, vĩnh viễn phôi pha, nhưng cũng không ngừng hiện hữu, biến hóa, và sinh sôi.

Nếu nhìn thoáng qua thì thấy cảnh thiên nhiên trong bức Chùa Thiên Mụ không có cái run rẩy choáng ngợp như bức Mùa thu vàng (1985) của Levitan, vốn cũng khởi phát từ những nhát cọ li ti đặc thù của bút pháp ấn tượng. Tuy nhiên, trường rung động của Mùa thu vàng chỉ mãnh liệt khắc khoải trong những phút ban đầu, sau đó thì ôn hòa dần để đọng lại ở cảm giác tĩnh lặng bình yên. Còn trường rung động của bề mặt bức Chùa Thiên Mụ thì hoàn toàn ngược lại. Thoạt nhìn thì thấy tính khuôn phép và tịch mịch, ấy là do trí não người xem cố tình làm hợp lý hóa cái mà mắt nhìn thấy. Nhưng càng nhìn lâu thì những hạt li ti âm bên dưới bề mặt tranh càng hiển lộ, khiến thế giới trong tranh càng trở nên biến hóa sinh động.

Xem thật kỹ lưỡng, người ta sẽ thấy rằng hệ thống các hạt li ti dưới bề mặt bức tranh Chùa Thiên Mụ tuy có vẻ mịn màng và đơn giản, nhưng khả năng tương tác với ánh sáng của chúng – đặc biệt là các mảng được dát kim loại – linh hoạt và kỳ ảo hơn rất nhiều so với bề mặt gồ ghề của toan tranh sơn dầu. Bề mặt tranh vẽ theo bút pháp pointilism của trường phái Ấn Tượng chỉ phát huy tối đa hiệu quả thị giác khi tương tác với ánh nắng hoặc các loại ánh sáng rực rỡ. Nhưng bề mặt sơn mài của bức tranh Chùa Thiên Mụ thì tùy biến theo các loại ánh sáng.

Dưới ánh nắng hè, mọi góc cạnh vàng son hiện lên đầy đủ rạng rỡ cho thấy đây là khung cảnh chùa Thiên Mụ mùa hè. Nhưng dưới ánh sáng trắng của mùa đông, ánh vàng son tự động trở nên trầm và lạnh, chuyển cảnh sắc thành của mùa đông. Tương tự như vậy, vào lúc ngoại cảnh trời mưa, người ta sẽ thấy ánh sáng toát lên từ bức tranh cũng tự động chuyển hóa thành sắc thái của trời mưa. Vào lúc ngoại cảnh là buổi đêm có ánh trăng hắt vào, nếu tắt đi các nguồn sáng khác, cảnh sắc trong tranh cũng sẽ chuyển thành đêm trăng Chùa Thiên Mụ. Tất cả những hiệu ứng kỳ ảo này đều do các hạt kim loại li ti dưới bề mặt tranh. Chúng thẩm thấu và phản ảnh lại rất chính xác sắc thái ánh sáng từ bên ngoài.

Ánh sáng và thời gian


Vàng son có nhiều sắc thái. Có cái vàng son sạch sẽ óng ánh. Có cái vàng son âm trầm. Có cái vàng son đã bị phôi pha – do thời gian hay do bàn tay hữu ý của người nghệ sỹ sơn mài. Những họa sỹ mới nhập môn thường bị thu hút bởi vẻ vàng son óng ánh. Phải là bậc thầy của sơn mài mới ưa dùng vàng son âm trầm, vàng son phôi pha, và biết dùng thế nào cho phù hợp và sang trọng. Đó là những người khéo léo, phần nào nương nhờ được vào hai chất liệu không thể kiểm soát và làm chủ: ánh sáng và thời gian. Nhưng Nguyễn Gia Trí là ngoại lệ. Với sơn mài, ông làm chủ được cả ánh sáng và thời gian. Từ một cái tứ đã sáo mòn là vàng son và phôi pha, Nguyễn Gia Trí đã nâng lên thành tư tưởng của sơn mài.






Mùa đông sắp đến (1960) – Trần Văn Cẩn




Mùa thu vàng (1985) - Levitan